Đôi liễn Cao Đài CAO như Bắc khuyết nhân chiêm ngưỡng. ÐÀI tại Nam phương Ðạo thống truyền. Đôi liễn nầy khởi đầu bằng hai chữ CAO ĐÀI, được in trên bìa của một quyển kinh Đạo Minh Sư bên Tàu, xuất hiện cuối đời nhà Minh và đầu nhà Thanh, truyền sang Việt Nam, cho biết trước rằng, về sau nầy tại VN, Thượng Đế sẽ mở ra một nền Đạo lớn, gọi là Đạo Cao Đài, qui hiệp tất cả các tôn giáo khác. Đôi liễn Di lạc Di - Lạc thất bá thiên niên quảng khai Ðại Ðạo. Thích Ca nhị thập ngũ thế chung lập Thiền môn. Ðôi liễn nầy do Ðức Chí Tôn ban cho để viết treo lên trong Ðại lễ Khai Ðạo Cao Ðài ngày 15-10-Bính Dần (1926), tại Thánh Thất tạm đặt tại chùa Gò Kén (Từ Lâm Tự) Tây Ninh. Đôi liễn vạn pháp Vạn pháp viên dung hóa độ chúng sanh vô lượng vô biên vô số kiếp. Tam tông phổ hiện tùy cơ thuyết giáo đại hùng đại lực đại từ bi. Ðôi liễn nầy của Ðức Quyền Giáo Tông Lê văn Trung viết treo lên trong ngày Ðại lễ Khai Ðạo tại Thánh Thất tạm đặt tại Chùa Gò Kén Tây Ninh ngày l5-10-Bính Dần (1926). Đôi liễn CAO ĐÀI Cao thượng Chí Tôn, Ðại Ðạo hòa bình dân chủ mục. Ðài tiền sùng bái, Tam Kỳ cộng hưởng tự do quyền. Đôi liễn nầy thường được chạm khắc nơi các cổng tam quan đi vào nội ô Tòa Thánh, hay các cổng chánh của các Thánh Thất. Đôi liễn Cao Đài do Đức Lý Giáo Tông ban cho để tượng trưng chủ nghĩa của Đạo Cao Đài. Nguyên trước đây, chữ chót của câu 1 là CHÁNH, đối với chữ QUYỀN của câu 2. Giáo Sư LaTapie (Thượng LaTapie Thanh) người Pháp sợ nhà cầm quyền Pháp đương thời hiểu lầm Đạo Cao Đài chủ trương làm chánh trị, tranh giành chánh quyền, nên cầu xin Đức Lý chỉnh lại. Đức Lý liền giáng cơ sửa chữ CHÁNH thành chữ MỤC. Đôi Liễn Hiệp Thiên Đài. Hiệp nhập Cao Ðài bá tánh thập phương qui chánh quả. Thiên khai Huỳnh Ðạo Ngũ chi Tam giáo hội Long hoa. Đôi liễn nầy được thấy nơi Tịnh Tâm Điện và nơi lầu Hiệp Thiên Đài Tòa Thánh, và nơi cổng của Văn phòng Hiệp Thiên Đài. 6. Đôi Liễn Giáo Tông Đường. C.1: Giáo hóa nhơn sanh nhựt nhựt trung tâm qui thiện quả. C.2: Tông khai tăng chúng thời thời trọng đạo hiệp chơn truyền. Đôi liễn nầy đặt tại cổng Giáo Tông Đường, khởi đầu bằng hai chữ: GIÁO TÔNG. Đôi liễn Giáo Tông Đường do ông Giáo Sư Thượng Hoài Thanh giáng cơ đặt ra, được Đức Quyền Giáo Tông Lê Văn Trung chấp nhận trong đàn cơ tại Giáo Tông Đường ngày 16-10-Ất Hợi (dl 11-11-1935), Phò loan: Hộ Pháp - Tiếp Đạo. Giáo Tông Đường là tòa nhà lớn dùng làm văn phòng làm việc của Đức Giáo Tông. 7. Đôi Liễn Nhơn Nghĩa. C.1: Nhơn bố tứ phương Ðại Ðạo dĩ Nhơn hưng xã tắc, C.2: Nghĩa ban vạn đại Tam Kỳ trọng Nghĩa chấn sơn hà. Đôi liễn nầy giải thích hai chữ NHƠN NGHĨA đặt ở mặt tiền Tòa Thánh, trên lầu HTĐ. 8. Đôi Liễn Pháp Chánh. C.1: Pháp luật vô tư đạo giáo từ oai tùng lý. C.2: Chánh tông bất dịch chơn truyền thiện ác tùy hình. Đôi liễn nầy đặt tại cổng của Văn phòng Bộ Pháp Chánh Hiệp Thiên Đài. Pháp Chánh là pháp luật qui định việc thi hành Chánh Đạo. Bộ Pháp Chánh là cơ quan tư pháp trung ương có nhiệm vụ gìn giữ luật pháp Đạo, không cho Chức sắc và tín đồ vi phạm, để phẩm giá được nâng cao. Do đó, Bộ Pháp Chánh tổ chức các tòa án Đạo để xử trị người vi phạm luật pháp Đạo. 9. Đôi Liễn Phạm Môn. C.1: Phạm giáo tùy nguơn cứu thế độ nhơn hành chánh pháp. C.2: Môn quyền định hội trừ tà diệt mị hộ chơn truyền. Đôi liễn nầy đặt tại cổng của Hộ Pháp Đường thường gọi là đôi liễn Phạm Môn, vì có hai chữ đầu là PHẠM MÔN. Đôi liễn nầy cũng thấy treo phía sau ba cái ngai của Đức Hộ Pháp, Thượng Phẩm, Thượng Sanh tại Tòa Thánh. Đôi liễn Phạm môn biểu thị tôn chỉ của Phạm Môn: Cửa Phật. 10. Đôi Liễn Hộ Pháp Đường. C.1: Hộ chấp Thiên cơ quản suất Càn khôn an thế giới. C.2: Pháp quyền xử định hòa bình thiên hạ tổng hoàn cầu. Hộ Pháp Đường là tòa nhà lớn dùng làm văn phòng làm việc của Đức Hộ Pháp. Đôi liễn nầy đặt ra để cẩn lên cổng của Hộ Pháp Đường, nhưng có lẽ vì hoàn cảnh và thời gian chưa thích hợp nên còn giữ lại, và dùng đôi liễn Phạm Môn thế vào để đặt nơi cổng Hộ Pháp Đường. 11. Đôi Liễn Vĩ Đại. C.1: Ðại đức từ bi thủy sáng hoằng cơ chơn pháp tuyên dương truyền chánh giáo. C.2: Vĩ công cứu thế vĩnh hoài minh huấn chúng sanh sùng bái ngưỡng tôn sư. Đôi liễn nầy đặt trên lầu Hộ Pháp Đường, trước bàn thờ Đức Phạm Hộ Pháp. 12. Đôi Liễn Bát Quái. C.1: Bát phẩm chơn hồn tạo thế giới hóa chúng sanh vạn vật hữu hình tùng thử Ðạo. C.2: Quái hào bác ái định Càn khôn phân đẳng cấp nhứt Thần phi tướng trị kỳ Tâm. Hai câu liễn nầy được đặt phía trước Báo Ân Từ. 13. Đôi Liễn Báo Ân Từ. C.1: Báo đắc Thánh danh hương hỏa thiên thu phụng tự. C.2: Ân di thế đại uy linh vạn cổ lưu tồn. Đôi liễn nầy đặt tại cổng Báo Ân Từ thuở Báo Ân Từ còn làm bằng cây ván. Báo Ân Từ là đền thờ các bực tiền bối có đại công với Đạo và cũng là nơi thờ phượng các vĩ nhân có công nghiệp lớn với nhơn loại. Hiện nay, Hội Thánh chưa cất được Điện Thờ Phật Mẫu Trung ương, nên dùng Báo Ân Từ làm đền thờ tạm Đức Phật Mẫu. 14. Đôi Liễn Báo Ân Từ.* C.1: Báo đáp chí công tiền bối khai cơ Thiên đạo lưu truyền thiên vạn đại. C.2: Ân từ đại đức hậu nhơn thừa kế tôn sùng chánh giáo thất ức niên. Ðôi liễn nầy đặt tại 2 cây cột trước bàn thờ Phước Lộc Thọ nơi Hậu Ðiện Báo Ân Từ. 15. Đôi Liễn Phước Thiện (1). C.1: Phước đức Thiên ban vạn vật chúng sanh ly khổ kiếp. C.2: Thiện duyên Ðịa trữ thập phương chư Phật hiệp nguyên nhân. Đôi liễn nầy đặt tại cổng vào Văn phòng Hội Thánh Phước Thiện. Phước Thiện là cơ quan tận độ chúng sanh, cốt mở đường Thánh đức cho sanh chúng có đủ phương thế nhập vào Thánh thể của Đức Chí Tôn. Phước Thiện còn là cơ quan bảo tồn, tế khổn phò nguy, giúp đỡ cho đời bớt khổ. 16. Đôi Liễn Phước Thiện (2). C.1: Phước đức tu tâm lạc đạo hòa nhơn tầm địa lợi, C.2: Thiện từ định tánh an bần hiệp chúng thức thiên thời. 17. Đôi Liễn Văn Phòng Tộc Đạo Phước Thiện. C.1: Tộc chủng phước duyên lập đức bồi công hòa đại chúng, C.2: Ðạo gia hành thiện tu chơn dưỡng tánh hộ quần sanh. Thuở trước Ðức Hộ Pháp chưa lập Hội Thánh Phước Thiện, trong Nội Ô có xây dựng Văn phòng Tộc Ðạo PT. 18. Đôi Liễn Hội Thánh Hàm Phong. C.1: Thánh Hội niên cao cố vấn Cửu Trùng tâm bất quyện. C.2: Hàm Phong đức thiệu chấp trung nhứt quán vị hà ưu. Ðôi liễn nầy đặt tại cổng vào Văn phòng Hội Thánh Hàm Phong. Hội Thánh Hàm Phong gồm những Chức sắc lớn tuổi, không còn đủ sức khỏe đi hành Ðạo, đã đươc Hội Thánh cho nghỉ hưu. 19. Đôi Liễn Phổ Tế. C.1: Phổ hóa chúng sanh cải ác tùng lương qui Ðại Ðạo. C.2: Tế nguy vạn loại khử tà tôn chánh hiệp Tam Kỳ Đôi liễn nầy đặt tại cổng vào Văn phòng Cơ quan Phổ Tế. Cơ quan Phổ Tế là một cơ quan của Cửu Trùng Đài, có nhiệm vụ cứu vớt, độ rỗi những người lạc bước thối tâm, cùng an ủi khuyên lơn những kẻ bị luật pháp buộc ràng mà phế vong phận sự, hay là độ những kẻ hữu công tầm đạo. 20. Đôi Liễn Tông Đạo Tần Nhơn. C.1: Tông đạo đồng môn tích nhựt khai lâm thành thành Thánh vức, C.2: Tần nhơn hiệp chủng kim triêu hướng thiện hưởng Thiên ân. Tần nhơn là người Cao Miên, ngày nay gọi là người Campuchia, vì họ cho rằng nguồn gốc của dân tộc họ là người nước Tần bên Tàu sang lập nghiệp. Tông đạo Tần nhơn gồm tất cả người Cao Miên theo đạo Cao Đài, có lập một Văn phòng thường trực trong Nội Ô Tòa Thánh, và nơi cổng vào Văn phòng có đặt đôi liễn nầy. 21. Đôi Liễn Tông Đạo Kim Biên. C.1: Tần quốc lân bang phổ độ chúng sanh qui thiện giáo. C.2: Kim Biên Tông đạo ngoại giao dân tộc chánh nhơn tâm. Nước Cao Miên (Campuchia) có thủ đô là Phnom-Pênh, phiên âm là Nam-Vang, trong đạo gọi là Kim-Biên, và nước Cao Miên được gọi là Tần quốc, người Cao Miên được gọi là Tần nhơn. Sau khi Đức Nguyệt Tâm Chơn Nhơn từ chức Chưởng Đạo Hội Thánh Ngoại Giáo, Đức Phạm Hộ Pháp giải tán Hội Thánh Ngoại Giáo và thành lập Tông đạo Kim Biên tại Nam Vang. Tông đạo Kim Biên có Văn phòng thường trực trong Nội Ô, kế bên Tông đạo Tần nhơn, và nơi cổng có đặt đôi liễn nêu trên. 22. Đôi Liễn Lễ Viện. C.1: Lễ giáo pháp điều bác ái đại đồng hòa thiện tâm năng độ chúng. C.2: Viện tùng Thiên đạo từ bi vạn loại hiệp nhứt trí hộ nhơn sanh. Đôi liễn nầy đặt trước Văn phòng Lễ Viện Cửu Trùng Đài. Lễ Viện là một Viện trong Cửu Viện, có nhiệm vụ coi về nghi lễ của đạo. 23. Đôi Liễn Y Viện. C.1: Y thuật Kỳ Hiên diệu dược hạnh lâm trừ vạn bệnh. C.2: Viện đường thâm võ lộ tế nhơn công đức phục hồi xuân. Đôi liễn nầy đặt tại cổng của Y Viện Phước Thiện. Y Viện là một Viện trong Cửu Viện, có nhiệm vụ nghiên cứu tìm kiếm cách chữa bịnh, thuốc trị bịnh, và săn sóc sức khỏe cho các Chức sắc và các nhân viên công quả. 24. Đôi Liễn Khách Đình (1). C.1: Khách quán từ bi trừ trái chủ. C.2: Ðình thuyền Bát Nhã độ mê tân. Đôi liễn nầy đặt nơi mặt trước cửa Khách đình. Khách đình là cái nhà trạm dùng làm chỗ dừng chân cho các khách lữ hành đang tranh đua danh lợi trên các nẻo đường trần. Khách trần chỉ dừng chân khi tắt hơi. Do đó, Khách đình là nơi để làm tang lễ cho các khách trần khi tắt hơi. Khách trần là những người khách từ cõi thiêng liêng xuống cõi trần để học hỏi tiến hóa và lập công quả. 25. Đôi Liễn Khách Đình (2). C.1: Sanh dã tạo đắc thiện duyên. C.2: Tử dã thoát ly quả kiếp. Đôi liễn nầy đặt tại cửa của Khách đình. 26. Đôi Liễn Tổng Trạo. C.1: Tổng đăng giác ngạn bạc long thuyền huy tưởng chấp đà siêu khổ hải, C.2: Trạo tống nguyên nhơn hồi cựu vị đương phong bột lãng hướng Thiên đường. Đôi liễn nầy được đặt trước Văn phòng Ban Tổng Trạo thuộc Ban Nhà Thuyền. Ban Nhà Thuyền là một ban chuyên môn cai quản Thuyền Bát Nhã, lo việc tẫn liệm, tống táng người chết. Ban Tổng Trạo là ban cai quản và huấn luyện các nhân viên Thuyền Bát Nhã. 27. Đôi Liễn Thuyền Bát Nhã (1). C.1: Vạn sự viết vô nhục thể thổ sanh huờn taị thổ. C.2: Thiên niên tự hữu linh hồn Thiên tứ phản hồi Thiên. Ðôi liễn nầy đặt ở mặt trước mui thuyền Bát Nhã. Nguồn gốc của đôi liễn nầy do Ngài Bảo Pháp Nguyễn trung Hậu đặt ra. Ngài Bảo Pháp viết: Đôi liễn nầy đặt ở mặt trước mui thuyền Bát Nhã, có nguồn gốc do Ngài Bảo Pháp Nguyễn Trung Hậu đặt ra. Ngài Bảo Pháp viết: Vạn sự viết vô, nhục thể ký qui tam xích thổ, Thiên niên tự hữu, linh hồn trực đáo Cửu TrùngThiên. (Muôn việc đều không, xác thịt gởi trả về ba tấc đất, Ngàn năm tự có, linh hồn đi thẳng lên Chín Từng Trời) Đôi liễn của Ngài Bảo Pháp viết rất hay, đối rất chỉnh, nhưng khi dâng lên Đức Lý Giáo Tông, Ngài chỉnh lại mấy chữ sau thì lại càng tuyệt diệu hơn nữa: Vạn sự viết vô, nhục thể thổ sanh huờn tại thổ, Thiên niên tự hữu, linh hồn Thiên tứ phản hồi Thiên. 28. Đôi Liễn Thuyền Bát Nhã (2). C.1: Hữu thể sanh nhi tùng tứ khổ. C.2: Vô hình tử giả quá tam đồ. Đôi liễn nầy đặt ở mặt sau mui thuyền Bát Nhã. Bát Nhã là phiên âm chữ Prajnâ, nghĩa là trí huệ. Trí huệ là sự sáng suốt hiểu biết các lẽ nhiệm mầu của Đạo, dứt sự mê lầm. Người tu đạt được trí huệ thì đắc đạo. Thuyền Bát Nhã là chiếc thuyền trí huệ đưa người đắc đạo trở về cõi Thiêng liêng. Về Thể pháp, Đạo Cao Đài đóng một chiếc thuyền bằng gỗ, hình con rồng, chở quan tài người chết đem chôn nơi nghĩa địa. Vì thuyền Bát Nhã đi trên lộ nên phải gắn bánh xe phía dưới để kéo đi. 29. Đôi Liễn Đạo Đức Học Đường C.1: Ðạo Ðức lưu truyền hậu tấn hiếu trung phò xã tắc. C.2: Học đường giáo hóa thư sinh nhơn nghĩa lập giang sơn. Đôi liễn nầy đặt tại cổng của trường Nghĩa thục Trung Tiểu học Đạo Đức Học Đường, do Hội Thánh lập ra trong Nội Ô Tòa Thánh Tây Ninh. 30. Đôi Liễn Lễ Nhạc Đường. C.1: Lễ dĩ địa trần minh định nhơn gian tôn trật tự. C.2: Nhạc do Thiên tác tuyên thông thế giới chủ điều hòa. Lễ Nhạc Đường là văn phòng điều hành và huấn luyện các Nhạc sĩ và Lễ sĩ. 31. Đôi Liễn Cơ quan Phát Thanh. C.1: Cơ quan truyền tín tổng hợp ngũ hồ thiên hạ sự, C.2: Phát thanh giáo lý cộng hòa tứ hải thế gian tình. Đôi liễn nầy đặt tại cổng của Cơ quan Phát thanh Phổ thông Giáo lý, do ông Hữu Phan Quân Lê Văn Thoại, Phó Giám đốc Cơ quan, đặt ra, dâng lên Ngài Khai Đạo Giám đốc Cơ quan, và Ngài Khai Đạo chuyển qua Ngài Hiến Pháp, được Ngài Hiến Pháp chấp thuận. 32. Đôi Liễn Ban Đạo Sử. C.1: Ðạo mạch khai thành giáo lý sưu tầm kim nghiệm cổ. C.2: Sử cương biên soạn chơn kinh tàng trữ bổn truy nguyên. Ðôi liễn nầy do Ngài Phối sư Thượng Cảnh Thanh, Phó Ban Ðạo Sử, đặt ra, dâng lên Ngài Hiến Pháp, Trưởng Ban Ðạo Sử, và được Ngài Hiến Pháp chấp thuận. 33. Đôi Liễn Trung Tông Đạo. C.1: Trung nghĩa đạo khai Việt Thường hòa Nam Bắc, C.2: Tông nhơn đức hóa Hồng Lạc hiệp Tây Ðông. Đôi liễn nầy đặt tại cổng Văn phòng của Trung Tông đạo trong Nội Ô TTTN. Trung Tông đạo gồm các tín đồ Cao Đài cư ngụ trong khu vực Trung phần VN. 34. Đôi Liễn Thảo Xá Hiền Cung. C.1: Thảo xá tùy nhơn ngu muội bần cùng nghinh nhập thất, C.2: Hiền cung trạch khách thông minh phú quí cấm lai môn. Đôi liễn nầy do Thất Nương giáng cơ ban cho ngôi nhà tranh của Đức Cao Thượng Phẩm ở Thị xã Tây Ninh là THẢO XÁ HIỀN CUNG, ngày 12-6-Mậu Thìn (dl 28-7-1928), sau khi Đức Cao Thượng Phẩm bị nhóm bạo hành buộc phải rời Tòa Thánh về an nghỉ tại tư gia. 35. Đôi Liễn Phạm Nghiệp. C.1: Phạm nghiệp thừa nhàn lợi lộc công danh vô sở dụng. C.2: Môn quan tích đạo tinh thần pháp bửu hữu cơ cầu. Đôi liễn nầy do Đức Phạm Hộ Pháp viết ra, và Đức Hộ Pháp cho đặt lên cổng của ngôi nhà Phạm Nghiệp vừa mới cất xong. Phạm nghiệp là cơ sở đầu tiên của Phạm Môn, do Đức Hộ Pháp lập ra vào năm 1929 tại phần đất nằm bên quốc lộ 22, khoảng giữa Giang Tân và Thị xã Tây Ninh. Hai chữ đầu của đôi liễn Phạm nghiệp là PHẠM MÔN, nên Phạm Nghiệp chính là Phạm Môn, mà Phạm Môn cũng chính là Phạm Nghiệp. 36. Đôi Liễn Cơ Thánh Vệ. C.1: Thánh đức chơn truyền chấn chỉnh tinh thần tùng Ðại Ðạo, C.2: Vệ quyền tôn giáo bảo tồn quốc thể hiệp Tam Kỳ. Đôi liễn nầy đặt tại cổng của Cơ Thánh Vệ. Cơ Thánh Vệ là cơ quan do Hội Thánh lập ra để bảo trọng Đạo quyền và bảo tồn Đạo nghiệp. Về trật tự, Cơ Thánh Vệ có nhiệm vụ gìn giữ trật tự trên các đường phố trong Nội Ô và Ngoại Ô Tòa Thánh. 37. Đôi Liễn Nhà thờ Đức Q. Giáo Tông (1). C.1: Quan miện Nam châu nhứt lộ công danh chiêm thử hội, C.2: Trâm anh thế phiệt bách niên phúc lộc khánh du đồng. Trong nhà thờ Đức Quyền Giáo Tông ở gần chợ Từ Bi, Châu Thành Thánh Địa, có hai đôi liễn: Đôi liễn 37 đặt bên bàn thờ Đức Quyền Giáo Tông, và Đôi liễn 38 đặt bên bàn thờ Hiền nội của Ngài. Hai bên đôi liễn có hai hàng chữ Nho nhỏ cho biết nguồn gốc của hai đôi liễn, đọc ra như sau: "Mỹ Tho, Phong Hòa Tổng, Địa hạt Hội Đồng Trần Văn Mẫu bái hạ." và "Nam kỳ Thượng Nghị Viện, Hội Đồng Lê đại nhân lạc thành chí khánh." Nghĩa là: Tỉnh Mỹ Tho, Tổng Phong Hòa, Hội Đồng Địa Hạt tên là Trần Văn Mẫu kính chúc mừng. Ở Nam Kỳ Thượng Nghị Viện, Ngài Hội Đồng họ Lê cất nhà mới xong, không quên, chúc mừng. Như vậy, hai đôi liễn nầy của ông Hội Đồng Địa Hạt Trần Văn Mẫu đem đến chúc mừng Ngài Hội Đồng Thượng Nghị Viện Lê Văn Trung trong dịp tân gia. 38. Đôi Liễn Nhà thờ Đức Q. Giáo Tông (2). C.1: Mỹ hoán mỹ luân sáng tạo vinh kim khai đại nghiệp. C.2: Khẳng đường khẳng cấu triệu bồi bằng tích thụ tiên cơ. 39. Đôi Liễn Cực Lạc Thổ. C.1: Cực lạc thiên thu Thánh thể an nhàn tồn phúc Ðịa. C.2: Mộ phần vạn đại quân nhân tự tại hưởng ân Thiên. Ðôi liễn nầy đặt tại cổng chánh đi vào Cưc Lạc Thổ thuộc Ðệ tứ Phận đạo. Cưc Lạc Thổ là đất Cực Lạc, tức là Nghĩa địa, nơi chôn xác chết của Chức sắc và tín đồ của Ðạo Cao Ðài. 40. Đôi Liễn Cực Lạc Cảnh. C.1: Cực Lạc liên tòa Phật giáo thập phương chơn bác ái, C.2: Cảnh quang chiếu diệu pháp truyền bá tánh đạo từ bi. Cực Lạc Cảnh là cảnh trí nơi cõi Cực Lạc Thế giới, do Ngài Đầu Sư Thái Thơ Thanh lập ra nơi phần đất tư của Ngài thuộc Phận đạo Đệ Tứ. Di tích của Cực Lạc Cảnh hiện nay là ngôi chùa Cực Lạc, trong đó có thờ Thiên Nhãn ở Chánh điện, có cốt tượng ba Đấng Giáo chủ Tam giáo, Tam Trấn và chư Thần Thánh Tiên Phật. Hai bên có thờ bửu ảnh và tượng bán thân của Ngài Đầu Sư Thái Thơ Thanh và Bà Nữ Đầu Sư Lâm Hương Thanh. 41. Đôi Liễn Văn phòng Ban Quản Trị Long Hoa C.1: Quản bảo nông thương công lý vô tư hòa tại thủ, C.2: Trị an công cổ luật điều bất dịch nghĩa đương tiên. Ðôi liễn nầy do Ông Bùi quang Hòa đặt ra vào năm 1951 nhân dịp khánh thành Văn Phòng Ban Quản Trị Chợ Long Hoa. Bùi quang Hòa lúc đó là Ðầu Phòng Văn, Ông Giáo Hữu Thượng Tý Thanh làm Trưởng Ban Quản Trị có đem đôi liễn nầy lên trình Ðức Phạm Hộ Pháp, được Ðức Ngài sửa chữ "Sĩ Nông" của Câu 1 thành chữ "Nông Thương" và nói rằng: "Chừng nào vùng Chợ Long Hoa có trường Ðại học thì dùng chữ Sĩ Nông mới hợp." 42. Đôi Liễn Báo Quốc Từ. C.1: Bảo thủ cơ đồ anh hùng dương khí phách, C.2: Hộ trì quốc vận chí sĩ hiển oai linh. Ðôi liễn nầy do Ngài Hiến Pháp Trương hữu Ðức đặt ra, được đắp chữ nổi vào hai trụ cổng của Báo Quốc Từ. 43. Đôi Liễn Minh Thiện Đàn (Phú Mỹ). C.1: Minh đức Tân dân Thánh Hiền nghinh nhập tịnh, C.2: Thiện từ ái chúng Tiên Phật ngự lai đàn. Ðôi liễn nầy do Ðức Lý Giáo Tông giáng cơ ban cho Nhà tịnh của Minh Thiện Ðàn tại làng Phú Mỹ quận Châu Thành, tỉnh Mỹ Tho, ngày 21-5-Tân Mùi (dl 6-7-1931), Phò loan: Ông Ðinh công Trứ và Ông Lê văn Trung. 44. Đôi Liễn Qui Thiện (1). C.1: Qui lương sanh hành chánh giáo thủ Bí pháp chấp trung quán nhứt, C.2: Thiện cấp cô năng dưỡng lão bảo Chơn truyền Ðại Ðạo Kỳ Tam. Đôi liễn nầy đặt tại cổng chánh đi vào Trường Qui Thiện, do ông Đinh Công Trứ, Chủ Trường Qui Thiện đặt ra. Nguyên khi trước, ông Đinh Công Trứ là người đứng đầu Minh Thiện Đàn ở Phú Mỹ (Mỹ Tho), ông về Tòa Thánh khẩn đất tại xã Trường Hòa, qui tụ các bạn trong Minh Thiện Đàn, lập ra Trường Qui Thiện để làm cơ sở tiếp tục tu hành. 45. Đôi Liễn Qui Thiện (2). C.1: Qui lương sanh tùng căn đế thức cách vật trí tri vi bổn, C.2: Thiện giác ngộ trụ tinh thần dĩ tu thân chánh kỷ phục nguyên. Ðôi liễn Qui Thiện nầy do Ông Ðinh công Trứ, Chủ Trường Qui Thiện đặt ra. 46. Đôi Liễn Điện Thờ Phật Mẫu Q.T. C.1: Qui Thánh đức trụ thiên lương kính trọng hiền nhân thân cô độc, C.2: Thiện tồn tâm hành chánh đạo tảo trừ quái giáo giải oan khiên. Ðôi liễn nầy đặt trước Ðiện Thờ Phật Mẫu của Trường QT, do Ông Ðinh công Trứ đặt ra. 47. Đôi Liễn Báo Ân Đường Q.T. (1). C.1: Báo bổ sơn hà thế giới hồi tâm qui thiện bổn, C.2: Ân bồi xã tắc nhơn quần ngộ đạo thức linh căn. Đôi liễn nầy do ông Bùi Quang Hòa đặt ra vào năm 1969, nhờ ông Lê Bá Kỳ đem dâng lên Ngài Hiến Pháp Trương Hữu Đức xem và được chấp thuận cho đắp nơi Báo Ân Đường Qui Thiện. Thợ hồ đắp đôi liễn nầy là ông Bảy Viễn, đắp hai chữ chót là CĂN LINH. Ngài Hiến Pháp đi xuống thăm thấy đắp sai như vậy, liền bảo đục ra đắp lại cho đúng là LINH CĂN. 48. Đôi Liễn Báo Ân Đường Q.T. (2). C.1: Hành đạo hy sinh lân tuất tiền nhơn di đại nghiệp, C.2: Tương công lập vị cảm hoài hậu thế niệm thâm ân. Đôi liễn nầy do ông Đinh Công Trứ, chủ Trường Qui Thiện đặt ra và được đắp lên mặt tiền của Báo Ân Đường Q T. 49. Đôi Liễn Trí Giác Cung. C.1: Trí linh quán thế Thiên cơ đạt, C.2: Giác huệ siêu phàm đạo pháp thông. Đôi liễn nầy đặt tại cổng chánh đi vào Trí Giác Cung thuộc Địa Linh Động. Đây là một trong ba Cung do Đức Phạm Hộ Pháp lập ra dùng làm Tịnh thất. Sau khi ông Đinh Công Trứ, Chủ Trường Qui Thiện mất (ngày mất 25-5-Kỷ Sửu, dl 21-6-1949), Đức Phạm Hộ Pháp cải tổ Trường Qui Thiện thành Địa Linh Động, trong đó có xây dựng Trí Giác Cung để làm Tịnh Thất. 50. Đôi Liễn Điện Thờ Phật Mẫu. C.1: Thánh Điện qui nguyên phước đức Thiên khai thành cẩm tú, C.2: Diêu Trì giác thế thiện duyên địa trữ lịch giang san. Đôi liễn nầy đặt tại cổng chánh đi vào Điện Thờ Phật Mẫu tại xã Trường Hòa (kế cận vườn cao su gần Trí Huệ Cung). Nơi cổng của Đ.T.Phật Mẫu tại xã Cẩm Giang cũng có cẩn đôi liễn nầy. 51. Hai câu Hán văn trên bức họa Nam Bình Phật Tổ. C.1: Hữu tế ư nhơn, hữu tế ư vật, thùy vị kỳ điên. C.2: Thác hữu ngã Phật, Phật kỳ hữu linh, hinh hương bái khất. Hai câu chữ Hán trên không phải là hai câu đối, viết trên bức họa Nam Bình Phật Tổ, được thờ nơi đối diện với bàn thờ Đức Phật Mẫu, trong Điện Thờ Phật Mẫu nơi Trí Giác Cung. Đức Phạm Hộ Pháp cho biết, Nam Bình Phật Tổ là vị Phật có công khai đạo tại nước VN, nên thờ Ngài . 52. Đôi Liễn trên Ngọc Lộ Thuyền. C.1: Sanh tiền tạo lập Thiên đường lộ. C.2: Tử hậu thoát ly Ðịa ngục môn. Đôi liễn nầy đặt trên chiếc Ngọc Lộ Thuyền của Địa Linh Động Trí Giác Cung. Khi xưa, Ngọc Lộ Thuyền là chiếc thuyền để chở quan tài người tín đồ qui liễu đem đến Khách Đình để tế lễ, rồi từ Khách Đình đưa đi chôn nơi nghĩa địa, mới dùng Thuyền Bát Nhã. Cho nên, Ngọc Lộ Thuyền không được làm theo kiểu Thuyền Bát Nhã, mà làm giống như chiếc xe tang ở ngoài đời 53. Đôi Liễn Chợ Tân Dân QT. C.1: Tân thế khai nguơn hội cửu nhị ức nguyên nhơn qui thượng cổ. C.2: Dân Thiên giáo hóa chuyển bát hồn hòa vũ trụ hiệp Càn khôn. Gần bên Trường Qui Thiện, Ban Giám đốc Trường có lập một cái chợ nhỏ, đặt tên là Tân Dân Thị (Chợ Tân Dân) để cho các tín đồ cư ngụ trong vùng có nơi mua bán. Nhưng mãi đến ngày 29-11-Giáp Ngọ (dl 23-12-1954), Đức Phạm Hộ Pháp mới khánh thành Tân Dân Thị. Đôi liễn nầy đặt trước nhà lồng Chợ Tân Dân. 54. Đôi Liễn Trí Huệ Cung. C.1: Trí định Thiên lương qui nhứt bổn. C.2: Huệ thông Ðạo pháp độ quần sanh. Đôi liễn nầy đặt tại cổng của Thiên Hỷ Động Trí Huệ Cung. Trí Huệ Cung ở trong Thiên Hỷ Động, do Đức Hộ Pháp lập ra để làm Tịnh Thất cho Nữ phái. 55. Đôi Liễn Sở Cấp Cô. C.1: Hoằng pháp tu chơn thực thi tôn chỉ đạo, C.2: Khai cơ hành thiện hoàn bị cấp cô viên. Sở Cấp Cô là một cơ sở phước thiện của Đạo lập ra để trợ cấp, nuôi dưỡng trẻ mồ côi . Sở Cấp Cô đồng nghĩa với Cô Nhi Viện. 56. Đôi Liễn Ban Cấp Tế. C.1: Cấp trí phò nguy chửng nịch cứu phần tận độ cơ hàn ư tứ khổ. C.2: Tế nhân ái chúng bảo cô tuất quả bất luận quí tiện dữ cùng thông. Ban Cấp Tế là một ban có nhiệm vụ cứu giúp khẩn cấp những người bị tai nạn nguy hiểm và gặp cảnh khốn khổ. 57. Đôi Liễn Nhà Bảo Sanh. C.1: Bảo vệ độ nhơn hòa vạn chủng. C.2: Sanh tồn hoạt thế cứu quần sanh. Đôi liễn nầy đặt tại cổng nhà Bảo Sanh Thuần Đức do Hội Thánh lập ra, ở đường Trung Hòa Lộ, đối diện với Trí Giác Cung. 56. Đôi Liễn Ban Cấp Tế. C.1: Cấp trí phò nguy chửng nịch cứu phần tận độ cơ hàn ư tứ khổ. C.2: Tế nhân ái chúng bảo cô tuất quả bất luận quí tiện dữ cùng thông. Ban Cấp Tế là một ban có nhiệm vụ cứu giúp khẩn cấp những người bị tai nạn nguy hiểm và gặp cảnh khốn khổ. 57. Đôi Liễn Nhà Bảo Sanh. C.1: Bảo vệ độ nhơn hòa vạn chủng. C.2: Sanh tồn hoạt thế cứu quần sanh. Đôi liễn nầy đặt tại cổng nhà Bảo Sanh Thuần Đức do Hội Thánh lập ra, ở đường Trung Hòa Lộ, đối diện với Trí Giác Cung. 58. Đôi Liễn Dưỡng Lão Đường. C.1: Dưỡng trí tu thân hành đạo pháp. C.2: Lão thông chơn tánh đạt huyền cơ. Dưỡng Lão đường là nhà để nuôi dưỡng những người già cả đơn độc. 59. Đôi Liễn Vạn Pháp Cung. C.1: Vạn lý hòa tâm đồng nhứt mạch. C.2: Pháp cao bình trí hội tam tông. Vạn Pháp Cung là một Cung trong ba Cung do Đức Phạm Hộ Pháp lập ra, dùng để làm Tịnh Thất cho Nam phái. Vạn Pháp Cung ở trong Nhơn Hòa Động, sẽ được xây dựng nơi Sở Sơn Đình tại 6 mẫu đất do Hội Thánh mua ở chơn núi Điện Bà. 60. Đôi Liễn Linh Sơn Động. C.1: Linh diệu cơ Thiên tế chúng truyền chơn hòa Ðại Ðạo. C.2: Sơn trường quang điện phổ nhơn pháp lý hiệp Kỳ Tam. Đôi liễn nầy do Đức Thái Thượng Đạo Tổ giáng cơ ban cho. Núi Điện Bà hay núi Bà Đen có vị Thần Nữ rất linh hiển, tục gọi là Bà Đen, được vua Gia Long sắc phong là Linh Sơn Thánh Mẫu, nên chữ Linh Sơn là chỉ núi Bà Đen, Thánh Mẫu chỉ vị Thần Nữ tôn kính. Linh Sơn Động là một cái hang núi (động đá) trong núi Bà Đen. Đây là nơi tu hành của quí vị Đạo núi, do ông Lễ Sanh Giáo Thiện Võ Văn Đợi, đạo hiệu Linh Đoán, thuộc Phạm Môn, lãnh đạo. Đây cũng là một tổ chức ban đầu để sau nầy Đức Phạm Hộ Pháp thành lập Nhơn Hòa Động và Vạn Pháp Cung, làm Tịnh Thất cho Nam phái. 61. Đôi Liễn Anh Linh Miếu (1). C.1: HẠC chấp trung quán nhứt. C.2: QUI Thánh đức Kỳ Tam. Trong Linh Sơn Động có thiết lập một ngôi thờ gọi là Anh Linh Miếu. Anh linh là cái cao quí thiêng liêng của Trời ban cho người, đó là linh hồn hay cũng gọi là điểm Linh quang. Anh Linh Miếu là nơi thờ phượng những linh hồn người chết. Trong Anh Linh Miếu có một đôi hạc đứng trên lưng hai con rùa. Ngài Phối Thánh Phạm Văn Màng giáng cơ ban cho đôi liễn nầy. 62. Đôi Liễn Anh Linh Miếu (2). C.1: Kiếp số lai Thiên nhập hội Huỳnh hiệp đức. C.2: Mạng căn đáo thế xuất Ðại Ðạo hòa nhơn. Ðôi liễn nầy do Ðức Cao Thượng Phẩm giáng cơ ban cho. (Theo lời của ông Võ Văn Kỵ, con của Ngài Võ Văn Ðợi). 63. Đôi Liễn Bàn đưa Chức sắc. C.1: Quả mãn Ngọc Hư hồi bái Phật. C.2: Công viên thọ sắc phục triều Thiên. Ðôi liễn nầy đặt 2 bên Bàn Ðưa Linh cữu của Chức sắc qui liễu đến Nghĩa địa. 64. Đôi Liễn Bàn đưa ở Qui Thiện. C.1: Quả mãn công viên triều Ngọc Ðế. C.2: Trì trai khổ hạnh bái Tiên Ông. Đôi liễn nầy đặt hai bên bàn đưa linh cữu đến nghĩa địa của Trường Qui Thiện. 65. Đôi Liễn Khánh thờ tư gia. C.1: Hạnh ngộ Cao Ðài truyền Ðại Ðạo. C.2: Hảo phùng Ngọc Ðế ngự trần gian. Đôi liễn nầy đặt hai bên khánh thờ Thánh tượng Thiên nhãn tại tư gia. Nguồn gốc của đôi liễn là lấy cặp trạng bài thi của Đức Chí Tôn giáng cơ, có in trong Thánh Ngôn Hiệp Tuyển quyển I: Hảo Nam bang! Hảo Nam bang! Tiểu quốc tảo khai Hội Niết Bàn. Hạnh ngộ Cao Ðài truyền Ðại Ðạo, Hảo phùng Ngọc Ðế ngự trần gian. Thi ân tế chúng Thiên tai tận, Nhược thiệt nhược hư vạn đại an. Chí bửu nhơn sanh vô giá định, Năng tri giác thế sắc Cao ban. 66. Đôi Liễn Khách Thiện Đường Q.T. (1). C.1: Khách cách vật hậu trí tri sử vạn quốc ngũ châu đồng trị. C.2: Thiện tồn tâm hành chánh đạo hóa toàn cầu tứ hải vô tranh. Khách Thiện đường là nhà để tiếp khách lành. Thuở xưa, nơi Trường Qui Thiện có xây dựng Khách Thiện Đường Nam và Nữ để tiếp khách Nam phái và Nữ phái. Đôi liễn nầy đặt trong Khách Thiện Đường của Trường Qui Thiện. 67. Đôi Liễn Khách Thiện Đường Q.T. (2). C.1: Khách Ðại học tại Minh đức Tân dân Chí thiện dĩ thanh tịnh an thân bảo mạng. C.2: Thiện tồn tâm hành nhân nghĩa lễ trí tín thị nhi trung hòa suất tánh do Thiên. 68. Ðôi liễn Khách Thiện đường Qui Thiện.(4) C.1: Hách hách hiển oai linh đảo tất thành kỳ tất ứng, C.2: Dương dương hồ tại thượng thị phất kiến thính phất văn. Ðôi liễn nầy đặt hai bên bàn thờ nơi Khách Thiện đường Trường Qui Thiện. 69. Ðôi liễn tại Hậu Ðiện Thánh Thất Cao Lãnh. C.1: Cao thâm diệu diệu Huỳnh Kim Khuyết. C.2: Ðài trọng nguy nguy Bạch Ngọc Kinh. Ðôi liễn nầy khởi đầu bằng 2 chữ CAO ÐÀI, và 5 chữ sau của mỗi câu lấy trong Kinh Ngọc Hoàng Thượng Ðế. 70. Ðôi liễn trong Tứ Thời Nhựt Tụng Kinh. C.1: Huỳnh Kim Khuyết nội huyền hư huyền diệu Tam qui toàn chuyển Phật Pháp Tăng, C.2: Bạch Ngọc Kinh trung vô cực vô vi Nhứt khí hóa thành Nho Thích Ðạo. Ðôi liễn nầy có in trong quyển Tứ Thời Nhựt Tụng Kinh của Nhị vị Ðầu Sư Thượng Trung Nhựt và Ngọc Lịch Nguyệt, Hội Thánh xuất bản năm 1928. |
Bài mới nhất |
Thứ Tư, 29 tháng 2, 2012
Các Đôi liễn ( Đôi câu đối)
Bài liên quan
- Thiên lý vạn vật đồng nhất thể
- Tìm Trâu - BS Bùi D(ắc Hùm
- Con Đường Của Người Đệ Tử Cao Đài
- Định nghĩa Trai kỳ Trường trai Ích lợi của việc ăn chay,Giải đáp một số câu hỏi về ăn chay
- ĂN CHAY tác giả Bảo Pháp NGUYỄN TRUNG HẬU
- ĐAO CAO ĐÀI buoc dau hoc dao
- LUẬN ĐẠO VẤN ĐÁP ĐẠO CAO ĐÀI
- ĐẠI ĐẠO HỌC ĐƯỜNG ĐẠO CAO ĐÀI
- Thuyết Nhị Nguyên và Chân Lý Nhất Như
- Phương châm hành Đạo
- Tìm hiểu đạo Cao Đài- Thánh tượng Thiên Nhãn
- Tuyển tập khuyến tu
- Rựu và sức khỏe - Chương trình sống Đạo
- Dịch học tinh hoa - Nguyễn Duy Cần
- Phỏng vấn Thùy Ngân
- Nho giáo và gia đình
- ĐẠO CAO ĐÀI THIÊN CO CHUYỂN HÓA
- Tìm Hiểu việc sử dụng Cơ Bút của Đạo Cao Đài
- Tìm Hiểu Ý Nghĩa Ngày Giổ Tổ Của Dân Tộc Việt Nam Mồng 10 tháng 3
- Luận Đạo do Đạo Sư Minh Nhân và môn đồ Tâm Pháp thực hiện
- Bước đầu học Đạo
- Sắc lệnh qui nguyên (st)
- Cao Đài Vấn Đáp 72 câu
- Thiên cơ chuyển hóa
Nhãn:
Học đạo
Đăng ký:
Đăng Nhận xét (Atom)
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét